Xây dựng Đảng, Chính quyền

Đồng Văn quyết tâm giành thắng lợi trong công tác bài trừ hủ tục, phong tục, tập quán lạc hậu trên địa bàn huyện

11/09/2023 16:57 95 lượt xem

Đồng Văn là huyện vùng cao biên giới của tỉnh Hà Giang và là điểm cực bắc của Tổ quốc. Đặc biệt địa hình ở đây bị chia cắt nhỏ bởi những dãy núi đá tai mèo cao vút hiểm trở và khó khăn, cùng khí hậu gió mùa nhưng mang tính chất lục địa khá rõ nét. Do vị trí nằm trên cao nguyên đá nên khả năng giữ nước kém, nhất là vào mùa khô nên một số vùng trong huyện thường xuyên gặp phải tình trạng thiếu nước trầm trọng cùng hiện tượng mưa tuyết ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống của bà con nhân dân.

Đồng Văn quyết tâm giành thắng lợi trong công tác bài trừ hủ tục, phong tục, tập quán lạc hậu trên địa bàn huyện
Đồng chí Hoàng Văn Thịnh, Tỉnh uỷ viên, Bí Thư Huyện uỷ, Chủ tịch Hội đồng nhân dân huyện, phát biểu chỉ đạo thực hiện Chỉ thị, Nghị quyết của tỉnh uỷ trong công tác bài trừ hủ tục, phong tục, tập quán, lạc hậu

Là huyện có ranh giới tiếp giáp với nước láng giềng CHND Trung Hoa và có sự sáp nhập nhiều lần qua lại trong lịch sử đã tạo cơ hội để nhân dân huyện Đồng Văn được tiếp xúc, giao thoa cùng với rất nhiều văn hoá. Sự đa dạng trong nét đẹp văn hoá dân tộc ấy đã được xây dựng, gìn giữ và phát huy trong suốt chiều dài lịch sự, tạo nên một nét đẹp rất riêng, không trộn lẫn của bà con nhân dân huyện Đồng Văn. Những nét đẹp ấy đã, đang và sẽ tiếp tục được lưu giữ, kế thừa và phát triển. Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng có không ít những văn hoá truyền thống cổ hủ, lạc hậu, thiếu đúng đắn trong dân tộc thiểu số huyện Đồng Văn.

Trong bài viết này, tôi sẽ cùng các bạn đọc giả sẽ cùng tìm hiểu, phân tích và làm rõ hơn những nét văn hoá cổ hủ, lạc hậu trong dân tộc thiểu số huyện Đồng Văn và Bài toán “Lỗi thoát nào cho bà con Cao nguyên đá, để xua đuổi con ma hủ tục”.

Quyết tâm xoá bỏ hủ tục, phong tục lạc hậu trong dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Đồng Văn.

Thực tế cho thấy, trong những năm qua, đời sống của bà con nhân dân huyện Đồng Văn vẫn còn bị ảnh hưởng bởi những hủ tục, phong tục lạc hậu. Trước những thực trạng đó, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Hà Giang đã ban hành chỉ thị số 09-CT/TU ngày 10/05/2021 của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ về “Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng bài trừ các hủ tục lạc hậu ở vùng đồng bào DTTS trên địa bàn tỉnh Hà Giang” giai đoạn 2021-2025. Ngày 01/05/2021, Tỉnh uỷ Hà Giang  tiếp tục ban hành Nghị quyết số 27-NQ/TU về “Thực hiện xoá bỏ hủ tục, phong tục, tập quán, lạc hậu, xây dựng nếp sống văn minh trong nhân dân các dân tộc tỉnh Hà Giang” giai đoạn 2022-2025, định hướng đến năm 2030. Để đưa được Chỉ thị cũng như Nghị quyết của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ vào đời sống nhân dân, dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Đồng Văn, Ban Thường vụ Huyện uỷ Đồng Văn đã kịp ban hành Chương trình số 16-CTr/HU ngày 01/6/2021 về “Tăng cường sự lãnh đạo của cấp uỷ Đảng bài trừ các phong tục, lạc hậu ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số” và Chương trình số 38 về “ Thực hiện xoá bỏ hủ tục, phong tục, tập quán lạc hậu, xây dựng nếp sống văn minh trong nhân dân các dân tộc” trong đó xác định lấy công tác tuyên truyền làm tiên phong.

Một số phong tục tập quán cổ hủ, lạc hậu trong đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Đồng Văn.

Tình trạng tảo hôn, hôn nhân cận huyết thống:

Tảo hôn là khi một trong hai bên hoặc cả hai bên nam và nữ chưa đủ điều kiện kết hôn nhưng vẫn tiến hành việc nam lấy vợ, nữ gả chồng. Đây là hành vi vi phạm pháp luật. Không chỉ vậy, đây còng là hành vi trái với chuẩn mực đạo đức của xã hội, thuần phong mỹ tục của dân tộc, ảnh hưởng đến mục đích của hôn nhân hướng tới sâu xa hơn là phát triển giống nòi. Ở Hà Giang việc tạo hôn diễn ra hết sức phức tạp. Nguyên nhân dẫn đến thực trạng này có thể kể đến như: do dân trí còn thấp,việc tiếp thu các nền văn hoá mới còn chậm, địa hình đi lại khó khăn hiểm trở khiến công tác tiếp cận,tuyên truyền phổ biến pháp luật, văn hoá còn gặp nhiều khó khăn… Đây đều là những nguyên nhân chính dẫn đến việc tảo hôn.

Hôn nhân cận huyết thống là hôn nhân giữa hai người nam và nữ lấy nhau nhưng có mối quan hệ anh em với nhau không quá ba đời: Con chú lấy con bác; con em lấy con chị; hai anh em lấy nhau. Theo quan niệm của một số dân tộc thiểu số việc lấy nhau như vậy nhằm đảm bảo việc giữ được đất đai, đất đai không bị mất trong dòng họ.

Việc tảo hôn, hôn nhân cận huyết thống được coi là hủ tục bởi dân đến những hệ quả xấu như: sức khoẻ của trẻ em bị ảnh hưởng, đặc biệt là các bé gái dưới 15 tuổi, nguy cơ chết trong quá trình mang thai và sinh nở cao hơn người bình thường, em bé sinh ra thường bị nhẹ cân, dị tật, dị bẩm…. Khi kết hôn sớm, trẻ em phải đối mặt với nhiều gánh nặng trong cuộc sống gia đình, không còn được sống thật trong lứa tuổi của mình. Trẻ buộc phải nghỉ học giữa chừng để nuôi con, mất đi cơ hội học tập, phát triển, thiếu kiến thức xã hội, tăng gánh nặng về thất nghiệp do khả năng bị hạn chế. Nhiều cặp vợ chồng tảo hôn, không có việc làm hoặc gặp khó khăn trong tìm kiếm việc làm, không tự chủ được kinh tế dẫn đến đói nghèo càng gia tăng. Từ đó kéo đến tình trạng hôn nhân bị đổ vỡ. Về lâu dài, gây ảnh hưởng đến chất lượng dân số, tăng tỷ lệ hộ nghèo, người tàn tật, thiếu trí tuệ cho xã hội.

Tập tục kéo vợ mê tín dị đoan: Ở Đồng Văn hiện nay vẫn diễn ra tình trạng kéo vợ, đặc biệt là ở một số dân tộc thiểu số điển hình như dân tộc Hmông. Tập tục kéo vợ đã có từ rất lâu trong đồng bào người dân tộc Hmông nhưng đến hiện nay vẫn còn tồn tại. Không những thế còn bị biến tấu, không còn phù hợp với xã hội, không phù hợp với thuần phong mỹ tục của chính bản sắc dân tộc Hmông. Ngày trước, kéo vợ được coi là nét đẹp trong phong tục của người dân là cầu nối kết duyên đôi bạn trẻ, là hành động đẹp thể hiện khát vọng tự do trong hôn nhân,nỗ lực vươn lên kiếm tìm hạnh phúc. Khi cha ông ta tổ chức kéo vợ “Là khi cả hai đã tìm hiểu về nhau và có hẹn ước với nhau đã từng trao cho nhau vật tín nhưng bị gia đình ngăn cản và họ đã hẹn gặp nhau để trò chuyện và cô gái đã từ chối lấy chàng trai do bị gia đình ngăn cản, nhưng tình yêu của họ quá lớn không thể rời xa nhau được. Vì vậy cô gái đã nghĩ ra một cách đó là nếu chàng trai kéo được cô về thì cô sẽ đi theo anh suốt đời. Từ đó phong tục kéo vợ ra đời. Cuối cùng tình yêu của họ cũng được đâm hoa kết trái và nhận được sự đồng ý của hai bên gia đình”. Vậy nhưng hiện nay phong tục kéo vợ đã biến tấu một cách nghiêm trọng. Một số thanh niên lợi dụng phong tục này mà kéo vợ. Kéo vợ - trở thành một nỗi ám ảnh với nhiều bạn nữ. Bởi lẽ, nhiều thanh niên lây kéo vợ làm một cái cớ để đường hoàng tước đoạt quyền tự do hôn nhân của các bạn nữ khác. Thực tế cho thấy, nhiều thanh niên trai tráng, khi đi ra ngoài, nếu thấy có cảm tình với bạn nữ nào, sẽ có hiện tượng rủ bạn bè tổ chức kéo về làm vợ, dẫu cho không hề hay biết cô gái đó đã có gia đình, có người yêu chưa…. Chính điều ấy đã khiến cho gia đình bị đổ vỡ, các chị em lo sợ, dẫn đến vấn nạn tự tử ngày càng cao, tạo nên hình ảnh xấu trong xã hội.

- Tập tục mê tín dị đoan, cúng bái khi gia đình có người bị ốm: Hiện nay trên địa bàn huyện Đồng Văn tỉnh Hà Giang một số dân tộc thiểu số ít người vẫn còn tình trạng mê tín dị đoan, cúng bái khi gia đình có người bị ốm, điển hình như dân tộc Dao. Nguyên nhân chính khiến tình trạng này vẫn còn tiếp diễn là do sự tiếp thu của một bộ phận người dân còn hạn chế, tiếp cận với nền văn minh còn chậm, địa hình cách xa trung tâm y tế…. Chính vì những hạn chế về nhận thức, còn đặt niềm tin rằng trong đời sống hằng ngày vẫn tồn tại những con “ma”. Xuất hiện tình trạng, hễ có người bị ốm là mời thầy cúng, thầy mo, bà bụt… để làm lễ xua đuổi con “ma”. Tập tục này đã in sâu vào tâm trí của một số dân tộc khi được lưu truyền lại từ thời cha ông,khiến cho tình trạng vận động tuyên truyền gặp nhiều khó khăn. Điều đó đã dẫn đến rất nhiều hậu quả đáng tiếc con mất cha, chồng mất vợ, bố mất con…bởi tin vào những điều không có thật, tin vào những lời thầy cúng, thầy mo khiến bệnh tình tăng nặng do không kịp thời cứu chữa.

- Tập tục trong việc tổ chức tang,lễ: Thực trạng tổ chức tang, lễ tại địa bàn huyện Đồng Văn vẫn diễn ra hết sức phức tạp, gây nhức nhối cho dư luận và xã hội. Hầu hết các đồng bào dân tộc thiểu số ở đây đều có tư tưởng suy nghĩ về việc tổ chức tang lễ như nhau đó là “tổ chức nhiều ngày, lâu dài, mổ nhiều gia súc, tổ chức linh đình” nhằm thể hiện lòng kính trọng với người đã mất và không muốn để bạn bè hàng xóm coi thường. Người chết chưa được đưa vào áo quan ngay mà còn để dài ngày dẫn đến tình trạng hoại tử, bốc mùi hôi thối, việc hạ huyệt vẫn còn chôn nông, thường hạ huyệt ở các vị trí cao vút khó đi lại…. Các buổi tang lễ thường được tổ chức kéo dài, tốn kém về thời gian, tiền bạc. Có những tang lễ số lượng trâu bò bị mổ lên tới hàng chục con, trong khi người dân còn khó khăn về kinh tế. Việc này dẫn đến tình trạng kiệt quệ về tài chính.Thậm chí, có những gia đình, dù điều kiện kinh tế không có nhưng cũng đi vay mượn người khác để tổ chức lễ tang, càng tăng thêm gánh nặng cho họ. Cùng với đó, việc ăn uống trong tang lễ còn chưa đảm bảo an toàn, vẫn ăn chung nồi, dùng chung đũa, chưa có đầy đủ dụng cụ để bày tiệc dẫn đến mất an toàn vệ sinh, tăng nguy cơ gia tăng các bệnh dịch.

- Nguyên nhân tồn tại những hủ tục trên là do: Tập quán của dân tộc thiểu số đã hình thành từ lâu đời; công tác vận động, tuyên truyền còn gặp nhiều khó khăn, hạn chế, một số nơi chưa được thường xuyên, liên tục, thiếu kiểm tra, đôn đốc; tư tưởng một số người dân chưa muốn thay đổi phong tục, tập quán, nhất là các nghi lễ trong việc hiếu, hỷ…

Giải pháp để đưa Chỉ thị, Nghị quyết của Tỉnh uỷ vào cuộc sống nhân dân các dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Đồng Văn.

Đảng bộ và nhân dân huyện Đồng Văn đã xác định rõ muốn bài trừ hủ tục, phong tục, tập quán lạc hậu ở trên địa bàn huyện, trước mắt chỉ có một biện pháp duy nhất là gắn với công tác bài trừ hủ tục, phong tục lạc hậu xuyên suốt quá trình thực hiện nên cần phải thực hiện một cách thận trọng, nghiêm túc, đi đến đâu bài trừ đến đó, không thể nóng vội hấp tấp. Bởi lẽ đây là phong tục đã “ăn sâu vào trong đá” không thể một sớm một chiều mà thay đổi được. Chính vì vậy, Đảng bộ chính quyền nhân dân huyện Đồng Văn đã thống nhất và lựa chọn biện pháp tuyên truyền là biện pháp chủ yếu và là kim chỉ nam cho bà con nhân dân loại bỏ những tập tục lạc hậu. Việc triển khai công tác tuyên truyền đã được đẩy mạnh,  phổ biến rộng rãi đến bà con nhân dân, đặc biệt là dân tộc thiểu số trên địa bàn thông qua các hoạt động:

Trong việc cưới hỏi: Như chúng ta đã biết việc cưới hỏi trên đồng bào dân tộc thiểu số diễn ra hết sức phức tạp cần phải nghiên cứu, tìm hiểu rõ trước khi tuyên truyền cho bà con biết đâu là cái tốt đâu là cái hay. Cần phải loại bỏ những hủ tục gây hậu quả xấu cho sự phát triển con người, đời sống cho xã hội như: thách cưới, tổ chức cưới nhiều ngày, ăn uống linh đình, giết mổ nhiều gia súc, sự biến tướng của hủ tục kéo vợ…Bà con nhân dân được định hướng ăn hỏi với nghi thức đơn giản, tiết kiệm, các hoạt động không làm ảnh hưởng đến cộng đồng dân cư. Tuyên truyền cho người dân, nhất là các đôi nam nữ chuẩn bị lấy nhau: tổ chức đám cưới cần phải đăng ký kết hôn theo đúng Luật hôn nhân và gia đình.  Khuyến khích hình thức báo hỷ thay cho tiệc cưới, tổ chức tiệc trà thay cho tiệc mặn linh đình, khuyến khích đăng ký kết hôn tập thể cho các đôi vợ chồng. Cơ quan, đoàn thể đứng ra tổ chức lễ cưới cho cán bộ, công chức, viên chức, người lao động theo hình thức đơn giản, phù hợp văn minh. Tổ chức đám cưới không lấn chiếm vỉa hè, lòng đường, không mở loa quá 22 giờ đêm. Không tham dự các lễ cưới hỏi vi phạm Luật Hôn nhân và gia đình (như tảo hôn, hôn nhân cận huyết thống). Loại bỏ nếp nghĩ lạc hậu trọng nam khinh nữ, giảm thiểu tình trạng sinh nhiều con trong các hộ gia đình.

Trong việc Tang: Xoá bỏ hủ tục rườm rà trong phúng viếng đám tang như: đi lễ, trả lễ tốn kém, lãng phí mà thay sang hình thức khác phù hợp, tiết kiệm hơn. Trong đồng bào dân tộc Hmông tuyên truyền vận động trong tang lễ ăn, uống phải có bát, đũa, mâm… đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. Loại bỏ hủ tục khi mang rượu đến lễ là bắt buộc phải mời uống hết số rượu mang đến, dẫn đến cả chủ và khách đều say gây lãng phí, bê tha. Trong đám hiếu bỏ hình thức quỳ lạy xuống dưới đất mà gia chủ có thể cảm ơn bằng các hình thức khác trang trọng, lịch sự và thân thiết hơn như lời nói hoặc cái bắt tay an ủi, động viên… Tuyên truyền không mang nhiều vàng mã đến và không đốt nhiều vàng mã, dễ gia tăng nguy cơ cháy nổ,ô nhiễm môi trường, gây lãng phí và tốn kém. Thực hiện đưa người chết vào áo quan ngay khi làm lễ tang tại nhà và không tổ chức đưa thi hài ra khỏi tang lễ “Ngoài trời”). Không chôn cất người chết quá nông, không tổ chức đám tang dài ngày quá 48 tiếng. Không mổ nhiều gia súc (trâu, bò, lợn, gà) gây lãng phí. Phát huy vai trò của người có uy tín, thầy kèn, thầy khèn, chủ trống trong thôn, tổ dân phố, trưởng các dòng họ và nghệ nhân tiêu biểu của Hội nghệ dân gian trong việc hướng dẫn người dân thực hiện các nghi lễ truyền thống theo phương châm đơn giản, tiết kiệm. Tuyên truyền vận động chủ nhà, trưởng dòng họ, thầy khèn, thầy kèn, chủ trống rút ngắn bài phúng viếng trong đám tang về thời lượng phù hợp hơn, với nội dung phù hợp, văn minh mang tính chất tưởng nhớ, thương tiếc người quá cố.

Bên cạnh đó các cơ quan đơn vị, cấp uỷ, chính quyền và cán bộ đảng viên không tổ chức đi viếng những đám tang vi phạm chủ trương của đảng, pháp luật của nhà nước về bài trừ hủ tục lạc hậu. Tiếp tục quan tâm việc lập quy hoạch nghĩa trang tập trung gắn với quy hoạch nông thôn mới, đảm bảo tuân thủ các tiêu chuẩn theo quy định, phù hợp và tiết kiệm đất.

Trong lễ, hội: Tổ chức tuyên truyền vận động các tổ chức nhân dân các dân tộc điều chỉnh, thay đổi những tập tục còn lạc hậu, rườm rà, phản cảm trong lễ hội. Không tổ chức các hoạt động trong lễ, hội trái với truyền thống văn hoá dân tộc. Ngăn chặn, loại bỏ các hành vi thương mại hoá lễ hội, các hoạt động mê tín dị đoan. Phát hiện và xử lý nghiêm những hành vi tiêu cực tại các lễ hội. Rà soát, quy hoạch và thống nhất việc tổ chức các lễ hội ở địa phương đảm bảo việc bảo tồn, phát huy các giá trị bản sắc,các truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Đồng thời làm nổi bật ý nghĩa, mục đích của các lễ, hội để giáo dục truyền thống gắn với thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội, đảm bảo quốc phòng-an ninh và xây dựng nếp sống văn minh trong lễ hội.

Trong đời sống sinh hoạt: Kế thừa và phát huy những tập quán tốt đẹp. Thay đổi những tập quán lạc hậu trong đời sống sinh hoạt, trong lao động sản xuất để phù hợp hơn với thời đại. Đẩy mạnh công tác giữ gìn vệ sinh môi trường, tham gia xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh, xoá đói giảm nghèo bền vững. Trong đó tập trung thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 05-NQ/TU ngày 01/12/2020 của Ban Chấp hành Đảng bộ Tỉnh về “Cải tạo vườn tạp, phát triển kinh tế vườn hộ để tạo sinh kế cho người dân, giảm nghèo bền vững, giai đoạn 2021-2025”.Từng bước nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho người dân.

Tập trung chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, chuyển đổi diện tích canh tác kém hiệu quả sang trồng cây ăn quả, cây dược liệu, cây rau, quả trái vụ, để tăng thu nhập trên đơn vị diện tích canh tác. Áp dụng khoa học kỹ thuật trong chăn nuôi, trồng trọt theo hướng sản xuất hàng hoá sạch để phát triển bền vững. Chủ động tăng canh thâm vụ, không sử dụng thuốc diệt cỏ, thuốc bảo vệ thực vật gây độc hại. Thực hiện tốt vệ sinh môi trường nông thôn, ăn ở hợp vệ sinh, không thả rông gia súc, di dời chuồng trại cách xa nhà, xây dựng hố chứa phân, chất thải, lò đốt rác. Không xả rác, chất thải, nước thải trực tiếp ra lòng, hè đường.

Xoá bỏ hủ tục bất bình đẳng khi không cho con dâu lên gác nhà, không cho con dâu ngồi chung mâm với bố chồng, không cho bố chồng lên giường con dâu, không cho con dâu đi qua bàn thờ tổ tiên…trong đồng bào dân tộc Hmông.        

Về những kết quả đạt được

Việc cưới: Đã tổ chức tuyên truyền và xử lý hành vi tảo hôn được trên 92 buổi với trên 10.905 lượt người tham gia. Hầu hết các đám cưới không tổ chức ăn uống linh đình nhiều ngày đã được được bào dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện hưởng ứng và thực hiện. Việc tảo hôn và kết hôn cận huyết thống đã giảm đáng kể. Đã thực hiện tổ chức tuyên truyền vận động hoãn hôn được 99/99 đôi nam nữ do chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định pháp luật. Hướng dẫn các xã tổ chức đăng ký kết hôn tập thể nhân dịp ngày Quốc tế hạnh phúc. Kết quả đã có 16/19 xã, thị trấn tổ chức đăng ký kết hôn cho 88 cặp vợ chồng. Nâng cao trách nhiệm của chính quyền các cấp, đặc biệt là trong công tác hộ tịch và nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của người dân về Luật hôn nhân và gia đinh về Luật hộ tịch để mỗi gia đình nắm rõ được trách nhiệm của vợ, của chồng trong hôn nhân. Phòng chống các hành vi vi phạm chính sách dân số. Bài trừ các hủ tục như tảo hôn, hôn nhân cận huyết, các hành vi xâm hại, bạo lực gia đình nhằm xây dựng gia đình và xã hội tốt đẹp. Đã tổ chức họp dân ký cam kết không để con em trong gia đình tảo hôn, hôn nhân cận huyết thống cho 829 hộ gia đình, được sự ủng hộ nhất trí cao của toàn thể bàn con trong huyện.

Việc Tang: Sau khi đưa Chỉ thị, Nghị quyết của Tỉnh uỷ vào đời sống nhân dân đã có hiệu quả rõ rệt. Các đám tang xảy ra trên địa bàn được tổ chức văn minh, an toàn tiết kiệm. Một số hủ tục rườm rà không cần thiết đã được loại bỏ và rút ngắn. Thời gian đám tang không quá 48 tiếng đồng hồ, không giết mổ nhiều gia súc từ (02 con bò trở lên) đã được nhân dân thực hiện nghiêm túc. Tiêu biểu như dòng họ Hầu thôn Sủa Pả A; dòng họ Sùng thôn Lũng Hoà B xã Sà Phìn, dòng họ Vàng thôn Chúng Mung – xã Thài Phìn Tủng… đã thực hiện tốt việc bài trừ hủ tục lạc hậu. Sau khi thực hiện Chỉ thị, Nghị quyết đến nay trên địa bàn huyện đã có 233 đám. Trong đó, số người chết được đưa vào áo quan khi tổ chức đám tang là 205 người, chiếm 87.98%; thời gian tổ chức đám tang không quá 48 tiếng đồng hồ là 228 đám, chiếm 97,9%; tổ chức ăn uống đảm bảo vệ sinh (có mâm và bát đũa).

Trong đời sống, sinh hoạt: Các hoạt động tham gia xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh, cải tạo vườn tạp, phát triển kinh tế vườn hộ, tạo sinh kế cho người dân, giảm nghèo bền vững. Công tác bảo vệ môi trường, thu gom rác thải, di dời chuồng trại gia súc ra xa nhà ở, xây dựng nhà tắm, nhà vệ sinh đã được nhân dân đồng tình hưởng ứng cao. Điển hình như mô hình cải tạo vườn tạp đã hoàn thành 100% Nghị quyết của tỉnh, tạo ra thu nhập lớn cho người dân, từng bước thay đổi diện mạo mới của Nông thôn. Nhằm thể hiện sự quan tâm của Đảng bộ chính quyền nhân dân huyện Đồng Văn đã tổ chức cuộc thi “Nhà Nông đua tài huyện Đồng Văn năm 2022” để khích lệ động viên tinh thần của con trong công tác cải tạo vườn tạp, thay đổi sinh kế vườn hộ. Ngoài ra còn vận động được nhân dân hiến 25,833m2 đất, đóng góp hơn 6.845 ngày công, mở mới được 11,37km đường, nâng cấp lại 6,0 km đường giao thông nông thôn. Nhân dân thực hiện láng và bó lại nền nhà 111 hộ, xây dựng được 147 công trình nhà tắm, 143 nhà vệ sinh, và một số công trình khác….

Bên cạnh việc xoá bỏ những hủ tục, phong tục, tập quán lạc hậu, Đảng uỷ các cấp chính quyền vẫn không quên giữ gìn và phát triển bản sắc văn hoá dân tộc trên địa bàn huyện. Đã quan tâm chỉ đạo tổ chức các lớp học truyền thống, giảng dạy các nghề truyền thống thủ công nghiệp như: khèn, sáo, trống, dân ca, dệt may….

Giải pháp trong thời gian tới

Do các phong tuc, tập quán lạc hậu đã hình thành ăn sâu vào trong đồng bào các dân tộc từ thế hệ này sang thế hệ khác, do đó việc vận động bà con dân tộc thiểu số là hết sức khó khăn. Đặc biệt như việc đưa người chết vào áo quan tư tưởng của một số đồng bào còn do dự về việc thay đổi phong tục, hủ tục lạc hậu. Tập quán canh tác sản xuất lạc hậu, chưa mạnh dạn đầu tư áp dụng khoa học kỹ thuật, thâm canh, tăng vụ. Một số vườn tạp chưa chất lượng, vệ sinh khuôn viên nhà ở còn hạn chế, xây dựng chuồng trại gần nhà ở do thiếu đất…

Thời gian tới Đảng bộ và chính quyền nhân dân các cấp huyện Đồng Văn cần hướng tới những mục đích và cách làm hay hơn, sáng tạo hơn nữa trong việc bài trừ hủ tục, phong tục tập quán lạc hậu trên địa bàn huyện. Để làm được điều đó cần phải nghiên cứu tìm tòi học hỏi từ những cái hay, cái tốt của huyện bạn, tỉnh bạn, để rồi áp dụng làm sao phù hợp với nhân dân trên địa bàn huyện. Nhưng trước hết, thiết nghĩ chung ta cần phải thực hiện tốt những nhiệm vụ như sau:

Phát huy vai trò của tổ chức Đảng và đảng viên trong việc bài trừ hủ tục, phong tục tập quán lạc hậu, rườm rà. Đồng thời lấy đội ngũ già làng, trưởng bản, trưởng ban công tác mặt trận thôn, người có uy tín, trưởng dòng họ, hội viên Hội nghệ nhân dân gian nhất là đội ngũ thầy mo, thầy cũng, thầy khèn, kèn, trống làm nòng cốt.

Nêu cáo công tác, lãnh đạo, chỉ đạo, phải quyết liệt kết hợp mềm dẻo linh hoạt có cả hệ thống chính trị vào cuộc.

Chú trọng công tác thi đua, khen thưởng và biểu dương kịp thời những tập thể, cá nhân, dòng họ có thành tích xuất sắc trong công tác bài trừ hủ tục.

Phát huy thế mạnh công tác tuyên truyền bằng miệng, tuyên truyền qua các trang mạng internets như zalo, Facebook, tiktok, các trang thông tin điện tử của huyện. Chỉ đạo tốt công tác đối thoại của người đứng đầu cấp uỷ, chính quyền từ huyện đến xã với nhân dân.

Lấy gương điển hình tiên tiến đi trước trong bài trừ hủ tục, phong tục tập quán lạc hậu để tuyên truyền đến dòng họ, thôn xóm, khu dân cư… Tổ chức trao các giải thưởng cho các các nhân, tập thể đã hoàn thành tốt công tác bài trừ hủ tục phong tục tập quán lạc hậu.

Một số hình ảnh trong công tác tuyên truyền, vận động bà con xoá bỏ hủ tục, phong tục, tập quán, lạc hậu và cải tạo vườn tạp phát triển kinh tế vườn hộ trên địa bàn huyện Đồng Văn

Đồng chí, Ly Mí Vàng PBT, TT Huyện uỷ, tham dự hội nghị ký cam kết với thôn dòng họ, xoá bỏ hủ tục, lạc hậu xây dựng nếp sống văn minh

Mô hình cải tảo vườn tạp của bà con xã Sính Lủng